Bón 2 tấn không hơn 1 tấn trong KN-012 tại Ea Súp
Giữa vụ nắng hạn 2019–2020 tại Ea Súp, quy trình 1 tấn COBANIC 21/ha ghi nhận năng suất cao hơn đối chứng 0,6 tấn/ha: 10,0% trên giống vàng sấy K326 (3 điểm khảo nghiệm) và 4,4% trên Burley (4 điểm khảo nghiệm). Quy trình 2 tấn/ha không vượt mức 1 tấn/ha.
Đây là so sánh các quy trình trọn gói: NPK, phân đơn thay đổi và đối chứng chính vẫn dùng 600 kg COBANIC 21/ha.
Chốt nhanh — KN-012: bón 1 tấn COBANIC 21/ha cho năng suất cao nhất và chi phí phân bón thấp nhất trên vàng sấy K326 (trung bình 3 điểm; đối chứng cũng dùng COBANIC 21). Bón 2 tấn/ha không cho thêm năng suất.
Nội dung chính
Vì sao khảo nghiệm phân hữu cơ trên thuốc lá tại Ea Súp?
Vụ 2019–2020 ở vùng nguyên liệu Khatoco gặp cảnh người trồng Ea Súp rất quen: nắng kéo dài, thiếu nước tưới, sâu ăn lá, bệnh đốm mắt cua và đốm vi khuẩn. Burley còn xuất hiện virus xoăn lá ở giai đoạn cuối. Bối cảnh này phải đi cùng mọi cách diễn giải kết quả.
Bảy điểm nằm tại Ea Lê, Ea Rok, Ya Tờ Mốt và Cư Kbang.




Khảo nghiệm KN-012 được thực hiện như thế nào?
KN-012 diễn ra từ cuối tháng 11/2019 đến đầu tháng 5/2020 tại bốn xã của Ea Súp. K326 có 3 điểm, Burley có 4 điểm; mỗi điểm gồm 4 quy trình, mỗi quy trình là một ô 5.000 m². Không có “2 lần lặp/điểm” trong thiết kế đã xác nhận.
Trên điện thoại: vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Mục | Nội dung |
|---|---|
| Mã khảo nghiệm | KN-012 |
| Địa điểm | 7 điểm tại các xã Ea Lê, Ea Rok, Ya Tờ Mốt và Cư Kbang, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk; chưa có bảng nối từng điểm với từng xã |
| Thời gian | Cuối 11/2019 đến đầu 05/2020; không ghi ngày cụ thể |
| Cây trồng | Thuốc lá vàng sấy giống K326, xuất xứ Brazil; thuốc lá Burley (nâu phơi), không ghi nhận tên giống cụ thể |
| Loại đất, pH | Đất xám pha cát; không đo pH |
| Nghiệm thức | Hai nghiệm thức khảo nghiệm: COBANIC 21 (báo cáo gốc gọi “Hữu cơ 21% Cò Bay”) ở mức 1.000 và 2.000 kg/ha, phối hợp NPK và phân đơn theo từng quy trình |
| Đối chứng | Đối chứng chính dùng 600 kg COBANIC 21/ha, do Khatoco đề xuất thời điểm đó; ngoài ra có một quy trình không dùng COBANIC 21 |
| Số điểm và số lần lặp | Vàng sấy K326: 3 điểm; Burley: 4 điểm. Mỗi điểm có 4 quy trình, mỗi quy trình 1 ô. “2” là hai nghiệm thức 1 và 2 tấn/ha, không phải 2 lần lặp |
| Diện tích mỗi ô | 5.000 m²/ô; mỗi điểm gồm 4 ô tương ứng 4 quy trình |
| Chỉ tiêu đo | Đo: năng suất. Tính toán: chi phí phân bón, doanh thu và lợi nhuận sau chi phí phân bón. Ảnh sinh trưởng, sâu bệnh là quan sát định tính |
| Cách đo | Năng suất được cân thực tế bằng cân điện tử cỡ lớn, tải trọng 1.000 kg. Người cân là cán bộ kỹ thuật và nhân viên kho của Công ty Thuốc lá Nguyên liệu Khatoco. Doanh thu = năng suất × giá bán; lợi nhuận sau chi phí phân bón = doanh thu − chi phí phân bón |
| Người thực hiện | Lê Trọng Nhơn và Mai Hoàng Xuyên – nhân viên khuyến nông |
| Đơn vị phối hợp | Công ty Thuốc lá Nguyên liệu Khatoco |
COBANIC 21 được bón lót ngày trồng; các đợt phân sau theo lịch ngày 14, 35 và 56. Solubo là phân bón vi lượng có thành phần chính là Bo, được chia nhỏ liều, hòa nước tưới tập trung ở hai giai đoạn 15–20 ngày và 35–60 ngày.
Trên điện thoại: vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Quy trình | Vàng sấy K326 | Burley | Solubo |
|---|---|---|---|
| COBANIC 21: 1.000 | NPK 10-10-26: 500; KNO₃: 300 | NPK 12-12-17: 500; KNO₃: 250; K₂SO₄: 150 | 5 |
| COBANIC 21: 2.000 | NPK 10-10-26: 400; KNO₃: 275; K₂SO₄: 50 | NPK 12-12-17: 400; KNO₃: 250; K₂SO₄: 200 | 5 |
| Đối chứng 600 | DAP: 100; NPK 10-10-26: 400; KNO₃: 350; K₂SO₄: 100 | DAP: 100; NPK 12-12-17: 550; SA: 200; K₂SO₄: 300 | 5 |
| Không dùng COBANIC 21 | Lân nung chảy: 300; NPK 10-10-26: 700; KNO₃: 250; K₂SO₄: 100 | Lân nung chảy: 300; NPK 12-12-17: 700; KNO₃: 300; phân bò: 1.000 | 3 |
NPK và phân đơn không được giữ cố định, nên không thể quy chênh lệch cho riêng COBANIC 21. Hai quy trình so sánh chính đều dùng 5 kg Solubo/ha cùng cách chia giai đoạn.
Năng suất và lợi nhuận thuốc lá vàng sấy tại Ea Súp ra sao?
Trên giống K326, quy trình 1 tấn đạt trung bình 4.288 kg/ha và lợi nhuận sau chi phí phân bón 180.826.960 đồng/ha (3 điểm khảo nghiệm). So với đối chứng cũng dùng COBANIC 21 ở mức 0,6 tấn/ha, năng suất cao hơn 10,0% và lợi nhuận cao hơn 19.747.470 đồng/ha.
Trên điện thoại: vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Quy trình | Năng suất kg/ha (kg/1.000 m²) | Chi phí phân bón đ/ha | Doanh thu đ/ha | Lợi nhuận sau phân bón đ/ha (đ/1.000 m²) | So đối chứng |
|---|---|---|---|---|---|
| COBANIC 21: 1 tấn3 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 4.288 (428,8) | 17.150.000 | 197.976.960 | 180.826.960 (18.082.696) | +10,0% |
| COBANIC 21: 2 tấn3 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 4.021 (402,1) | 18.312.500 | 185.649.570 | 167.337.070 (16.733.707) | +3,2% |
| Đối chứng 0,6 tấn3 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 3.897 (389,7) | 18.845.000 | 179.924.490 | 161.079.490 (16.107.949) | Mốc |
| Không dùng COBANIC 213 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 3.615 (361,5) | 18.655.000 | 166.904.550 | 148.249.550 (14.824.955) | −7,2% |
Quy trình 1 tấn vừa có năng suất trung bình cao nhất vừa có chi phí phân bón thấp hơn đối chứng 1.695.000 đồng/ha; chênh năng suất là 391 kg/ha, tương đương 39,1 kg/1.000 m² (3 điểm khảo nghiệm).
Giá 46.170 đồng/kg được báo cáo dùng chung cho bốn quy trình K326; nguồn hình thành giá không được ghi. Lợi nhuận chỉ trừ chi phí phân bón.
Năng suất và lợi nhuận thuốc lá Burley tại Ea Súp ra sao?
Trên Burley, quy trình 1 tấn đạt trung bình 2.606 kg/ha và lợi nhuận sau chi phí phân bón 81.328.000 đồng/ha (4 điểm khảo nghiệm). So với đối chứng cũng dùng 0,6 tấn COBANIC 21/ha, năng suất cao hơn 4,4% và lợi nhuận cao hơn 2.115.000 đồng/ha. Mức chênh năng suất này khá mỏng.
Trên điện thoại: vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Quy trình | Năng suất kg/ha (kg/1.000 m²) | Chi phí phân bón đ/ha | Doanh thu đ/ha | Lợi nhuận sau phân bón đ/ha (đ/1.000 m²) | So đối chứng |
|---|---|---|---|---|---|
| COBANIC 21: 1 tấn4 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 2.606 (260,6) | 17.700.000 | 99.028.000 | 81.328.000 (8.132.800) | +4,4% |
| COBANIC 21: 2 tấn4 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 2.582 (258,2) | 19.525.000 | 98.116.000 | 78.591.000 (7.859.100) | +3,4% |
| Đối chứng 0,6 tấn4 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 2.496 (249,6) | 15.635.000 | 94.848.000 | 79.213.000 (7.921.300) | Mốc |
| Không dùng COBANIC 214 điểm khảo nghiệm · 5.000 m²/ô | 2.261 (226,1) | 19.880.000 | 85.918.000 | 66.038.000 (6.603.800) | −9,4% |
Giá 38.000 đồng/kg được báo cáo dùng chung cho bốn quy trình Burley; nguồn hình thành giá không được ghi. Quy trình 2 tấn cao hơn đối chứng 3,4% về năng suất nhưng lợi nhuận sau phân bón thấp hơn 622.000 đồng/ha (4 điểm khảo nghiệm).




Bón 2 tấn COBANIC 21 có tốt hơn 1 tấn không?
Không trong KN-012. Quy trình 2 tấn có năng suất trung bình thấp hơn quy trình 1 tấn 267 kg/ha trên K326 (3 điểm khảo nghiệm) và thấp hơn 24 kg/ha trên Burley (4 điểm khảo nghiệm). Chi phí phân bón của quy trình 2 tấn cũng cao hơn ở cả hai nhóm thuốc lá.
Điều này không chứng minh 2 tấn làm giảm năng suất. Vì NPK và phân đơn cũng thay đổi, chỉ có thể kết luận quy trình trọn gói 2 tấn không vượt quy trình 1 tấn trong KN-012.
Kết quả có ổn định ở từng điểm khảo nghiệm không?
Không thể trả lời. Bảng cân từng điểm không còn được lưu; hồ sơ chỉ giữ số trung bình gộp của 3 điểm K326 và 4 điểm Burley. Vì vậy không biết các điểm có cùng chiều hay không, không tính được độ phân tán và cũng không thể dựng lại bảng kết quả theo từng xã.
Trên điện thoại: vuốt ngang để xem đủ bảng.
| Nhóm | Thiết kế đã xác nhận | Số liệu từng điểm |
|---|---|---|
| Vàng sấy K326 | 3 điểm; mỗi điểm 4 quy trình; 5.000 m²/ô | Bảng cân từng điểm không còn lưu |
| Burley | 4 điểm; mỗi điểm 4 quy trình; 5.000 m²/ô | Bảng cân từng điểm không còn lưu |
Khảo nghiệm này chưa nói được gì?
KN-012 chỉ phản ánh một vụ tại Ea Súp trong điều kiện nắng hạn và sâu bệnh. Các quy trình khác cả liều COBANIC 21, NPK và phân đơn; dữ liệu từng điểm lại không còn. Vì vậy kết quả chưa chứng minh tác động độc lập của sản phẩm và chưa thể suy rộng sang mọi vùng trồng.
- Đối chứng chính cũng dùng 600 kg COBANIC 21/ha; đây không phải so “có dùng” với “không dùng”.
- Bảng cân từng điểm không còn lưu, nên chưa kiểm tra được độ ổn định giữa 7 điểm hoặc giữa 4 xã.
- Không có lặp trong từng điểm; mỗi quy trình có một ô 5.000 m² tại mỗi điểm.
- Không đo pH hoặc cấp lá. Một giá chung được áp cho bốn quy trình, nên phép tính giả định cấp lá không làm thay đổi giá.
- Lợi nhuận chưa trừ thuốc BVTV, lao động, tưới, sấy và các chi phí sản xuất khác.
- Burley gặp virus xoăn lá; quy trình “không dùng COBANIC 21” trên Burley vẫn dùng 1.000 kg phân bò/ha.
- Hai quy trình so sánh chính dùng cùng 5 kg Solubo/ha, nhưng NPK và phân đơn vẫn gây nhiễu.
- Ảnh cùng giai đoạn nhưng thiếu ngày, mã điểm và xác nhận cùng góc máy.
Kết quả KN-012 phù hợp để tham khảo cho ruộng nào?
Kết quả phù hợp nhất để tham khảo cho giống vàng sấy K326 và thuốc lá Burley trên đất xám pha cát tại vùng nguyên liệu Ea Súp, khi dùng bộ phân phối hợp gần với KN-012. Ruộng ở vùng khác, loại đất khác hoặc dùng nền NPK khác không nên lấy các mức chênh này làm cam kết.
Quy trình 1 tấn/ha có kết quả trung bình cao nhất ở K326 (3 điểm khảo nghiệm) và Burley (4 điểm khảo nghiệm). Ruộng cụ thể vẫn cần căn cứ hướng dẫn đang áp dụng.
Hồ sơ lưu hành COBANIC 21 nói gì về liều 2 tấn/ha?
Hướng dẫn sử dụng không ghi liều riêng cho thuốc lá. Với các cây có thời gian sinh trưởng tương tự như cây họ đậu, rau và hồ tiêu, mức ghi trong hướng dẫn là 1,5–3 tấn/ha. Vì vậy 2 tấn/ha không được trình bày như một liều đăng ký riêng cho thuốc lá.
Tại thời điểm làm KN-012, sản phẩm áp dụng theo Quyết định lưu hành số 974/QĐ-BVTV-PB ngày 10/08/2018. Quyết định hiện hành là 1098/QĐ-BVTV-PB ngày 15/05/2023.
Cập nhật nội bộ ghi nhận mức 2.000 kg/ha tiếp tục được dùng ở các chương trình 2023–2026. Dữ liệu đó không gộp vào KN-012 và không thay thế hướng dẫn sử dụng.
Đại lý và người trồng thường hỏi gì về KN-012?
Bốn chỗ dễ bị hiểu quá tay là mức tăng 10,0%, ý nghĩa của đối chứng, liều 2 tấn/ha và chữ “lợi nhuận”. Câu trả lời phải giữ nguyên cỡ mẫu, nền phân bón và cách tính. Nếu bỏ những chi tiết đó, một kết quả quy trình rất dễ bị biến thành cam kết sản phẩm.
Có thể nói COBANIC 21 làm tăng năng suất K326 10,0% không?
Không nên. 10,0% là chênh lệch giữa quy trình 1 tấn và quy trình đối chứng cũng dùng COBANIC 21 ở mức 0,6 tấn/ha (3 điểm khảo nghiệm). Hai quy trình còn khác NPK và phân đơn, nên chưa tách được tác động độc lập của riêng COBANIC 21.
Tại sao bón 2 tấn lại không cao hơn 1 tấn trong KN-012?
KN-012 chỉ cho thấy quy trình trọn gói 2 tấn không vượt quy trình 1 tấn trong vụ 2019–2020. Nó không chứng minh 2 tấn gây giảm năng suất, vì NPK và phân đơn cũng thay đổi. Bảng cân từng điểm không còn lưu nên cũng chưa biết chênh lệch có ổn định giữa các điểm hay không.
Liều 2 tấn/ha có phải liều đăng ký riêng cho thuốc lá không?
Không. Hướng dẫn sử dụng không ghi liều riêng cho thuốc lá. Khoảng 1,5–3 tấn/ha được ghi cho các cây có thời gian sinh trưởng tương tự như cây họ đậu, rau và hồ tiêu. KN-012 là dữ liệu thực địa để tham khảo trong điều kiện đã thử, không thay thế nhãn và hướng dẫn sử dụng.
“Lợi nhuận” trong bài có phải lợi nhuận ròng không?
Không. Báo cáo lấy năng suất nhân mức giá dùng trong báo cáo rồi chỉ trừ chi phí phân bón. Thuốc bảo vệ thực vật, công lao động, nước tưới, sấy và các chi phí sản xuất khác chưa được trừ. Vì vậy bài dùng tên đầy đủ “lợi nhuận sau chi phí phân bón”.
