Từ ghi nhận bộ rễ ở ngày thứ 20 đến đợt thu hoạch sau gần 70 ngày, vụ bí hồ lô tại vườn anh Lắm ở Bình Tân, Vĩnh Long đã đi qua nhiều chặng chăm sóc. Khu thực nghiệm theo quy trình CFC ghi nhận năng suất 982 kg/1.000 m², cao hơn 37 kg, tương đương khoảng 3,9% so với khu đối chứng. Phần thu còn lại sau khi trừ chi phí phân bón cũng cao hơn khoảng 16%, theo số liệu khảo nghiệm vụ 2020.

“Rễ sâu, đọt cứ vươn dài,
Hoa khoe sắc thắm, trái sai cuối mùa.”

Trái cuối mùa là hình ảnh dễ thấy nhất khi nhìn lại một vụ bí. Nhưng để kể trọn câu chuyện ấy, cần trở về những gì đã được chăm chút từ đầu: bộ rễ, đọt và hoa, rồi đến chặng nuôi trái.


Hình 1 · 20 ngày:
Bắt đầu câu chuyện từ bộ rễ. Ảnh tư liệu ghi nhận rễ tại vườn khảo nghiệm.

Hình 2 · 36 ngày:
Đọt vươn, hoa nở. Ảnh tư liệu thể hiện đọt và tán lá trong hành trình sinh trưởng.

Hình 3 · 48 ngày:
Cây bước vào chặng nuôi trái. Ảnh tư liệu trái bí trên cây tại mốc theo dõi này.

Hình 4 · Gần 70 ngày:
Hành trình đi đến mùa thu hoạch. Số liệu năng suất được trình bày riêng trong bảng kết quả bên dưới.

Trái cuối mùa, câu chuyện bắt đầu từ đâu?

Ở bài 01, CFC đã giới thiệu ghi nhận bộ rễ bí hồ lô sau 20 ngày trồng. Bài 02 tiếp nối mốc quan sát đó, nhìn lại hành trình của cùng vụ khảo nghiệm tại vườn anh Lắm từ giai đoạn đầu đến khi thu hoạch.

20 ngày: bắt đầu từ bộ rễ

Khác biệt đầu tiên được ghi nhận ở phía dưới gốc. So với khu đối chứng chăm sóc theo quy trình nông dân, phía thực nghiệm theo quy trình CFC được mô tả có rễ nhiều hơn, rễ non to và dài hơn. Đây là ghi nhận quan sát ở mốc 20 ngày, mở đầu cho việc theo dõi cây ở các giai đoạn sau.

36 ngày: đọt vươn, hoa nở

Đến ngày thứ 36, câu chuyện chuyển từ bộ rễ sang phần cây trên mặt đất: đọt tiếp tục vươn, cây bước vào giai đoạn ra hoa. Tư liệu ở mốc này ghi lại một chặng tiếp theo trong quá trình sinh trưởng của vườn bí.

48 ngày: bước vào chặng nuôi trái

Ở mốc 48 ngày, cây bước vào chặng nuôi trái. Hình ảnh trái bí trên cây nối tiếp những ghi nhận về rễ, đọt và hoa, giúp bà con hình dung hành trình của vụ bí qua từng thời điểm theo dõi.

Gần 70 ngày: đi đến mùa thu hoạch

Sau gần 70 ngày, hành trình đi đến thu hoạch. Lúc này, câu chuyện có thêm số liệu về năng suất và kết quả kinh tế, bên cạnh những hình ảnh sinh trưởng đã ghi nhận trước đó.

Một vụ bí đi qua nhiều chặng. Mỗi chặng đều cần được chăm chút để đi đến ngày thu hoạch; những hình ảnh trong bài kể lại hành trình ấy, còn mức chênh lệch giữa hai quy trình được thể hiện bằng số liệu khảo nghiệm.

Thu hoạch: 982 kg so với 945 kg trên 1.000 m²

Năng suất ghi nhận tại khu thực nghiệm theo quy trình CFC là 982 kg/1.000 m², trong khi khu đối chứng theo quy trình nông dân đạt 945 kg/1.000 m². Chênh lệch là 37 kg/1.000 m², tương đương khoảng 3,9% so với đối chứng.

Cùng với năng suất, số liệu khảo nghiệm còn ghi nhận chênh lệch về chi phí phân bón, doanh thu và phần thu sau phân bón giữa hai bên. Các giá trị trong bảng đều thuộc vụ khảo nghiệm năm 2020, tính trên cùng diện tích 1.000 m².

Kết quả ghi nhận trong khảo nghiệm tại Bình Tân, Vĩnh Long, vụ 2020
Chỉ tiêu trên 1.000 m² Đối chứng — quy trình nông dân Thực nghiệm — quy trình CFC Chênh lệch thực nghiệm so với đối chứng
Năng suất 945 kg 982 kg Tăng 37 kg
Khoảng 3,9%
Chi phí phân bón 2.430.000 đồng 2.018.000 đồng Giảm 412.000 đồng
Doanh thu 6.615.000 đồng 6.874.000 đồng Tăng 259.000 đồng
Phần thu còn lại sau khi trừ chi phí phân bón 4.185.000 đồng 4.856.000 đồng Tăng 671.000 đồng
Khoảng 16%

Tài liệu sử dụng cùng mức giá bán 7.000 đồng/kg để tính doanh thu cho hai bên. Đây là mức giá dùng trong báo cáo khảo nghiệm, không phải giá bán hiện tại.

Phần thu sau phân bón cao hơn 671.000 đồng/1.000 m² đến từ hai khoản trong bảng: doanh thu cao hơn 259.000 đồng và chi phí phân bón thấp hơn 412.000 đồng.

Cách hiểu số liệu lợi nhuận: Mức tăng khoảng 16% được tính từ doanh thu trừ chi phí phân bón. Chỉ tiêu này chưa trừ toàn bộ chi phí sản xuất, chẳng hạn công lao động, thuốc bảo vệ thực vật và tưới nước.

Quy trình bón phân đã thực hiện trong khảo nghiệm

Phía thực nghiệm sử dụng Hữu cơ vi sinh Cò Bay Cobanic 21 ở bước bón lót và NPK Cò Bay 20-20-15+TE trong ba đợt bón tiếp theo. Liều lượng đã thực hiện được trình bày dưới đây.

Phân bón và liều lượng trong quy trình thực nghiệm CFC
Lần bón Sản phẩm Liều lượng trên 1.000 m²
Bón lót Hữu cơ vi sinh Cò Bay Cobanic 21 160 kg
Đợt 1 NPK Cò Bay 20-20-15+TE 2 kg
Đợt 2 NPK Cò Bay 20-20-15+TE 60 kg
Đợt 3 NPK Cò Bay 20-20-15+TE 25 kg

Liều lượng trong bảng mô tả quy trình đã áp dụng tại vườn khảo nghiệm. Các mốc 20, 36, 48 và gần 70 ngày là thời điểm ghi nhận sinh trưởng, không dùng để tự suy ra ngày thực hiện từng đợt bón.

Kết quả phản ánh cả hành trình chăm sóc

Từ bộ rễ ở giai đoạn đầu đến năng suất khi thu hoạch, các ghi nhận trong bài giúp nhìn lại toàn bộ vụ bí hồ lô tại vườn anh Lắm. Khu thực nghiệm ghi nhận năng suất cao hơn và phần thu sau chi phí phân bón cao hơn khu đối chứng trong điều kiện khảo nghiệm này.

Phạm vi kết quả: Số liệu thuộc khảo nghiệm tại Bình Tân, Vĩnh Long năm 2020. Chênh lệch được ghi nhận giữa hai quy trình chăm sóc; chưa tách riêng tác động của một sản phẩm, một lần bón hay một giai đoạn sinh trưởng.

Số liệu kinh tế được tính theo giá bán và chi phí phân bón dùng tại thời điểm khảo nghiệm. Hiệu quả thực tế có thể thay đổi tùy chất đất, điều kiện canh tác và thị trường.

Vì vậy, khi tham khảo quy trình, bà con cần đặt liều lượng và kết quả trong bối cảnh của vườn mình. CFC có thể hỗ trợ tư vấn cách sử dụng phân bón phù hợp với điều kiện canh tác cụ thể.

Thông tin khảo nghiệm

Câu hỏi thường gặp

Năng suất cao hơn khoảng 3,9% được tính thế nào?

Lấy chênh lệch 37 kg chia cho năng suất đối chứng 945 kg, rồi nhân 100. Kết quả xấp xỉ 3,9%, trên cùng diện tích 1.000 m².

Vì sao phần thu sau phân bón tăng khoảng 16% trong khi năng suất tăng khoảng 3,9%?

Theo bảng số liệu, khu thực nghiệm vừa có doanh thu cao hơn vừa có chi phí phân bón thấp hơn. Phần thu sau phân bón tăng từ 4.185.000 lên 4.856.000 đồng/1.000 m²; mức tăng 671.000 đồng tương đương khoảng 16% so với đối chứng.

Có thể áp dụng nguyên quy trình này cho mọi vườn bí không?

Đây là quy trình đã thực hiện trong một khảo nghiệm cụ thể. Khi áp dụng cho vườn khác, cần xem xét chất đất, điều kiện canh tác và nhu cầu chăm sóc của cây; kết quả tại vườn anh Lắm là thông tin tham khảo cho việc trao đổi và tư vấn.

Cùng chia sẻ chuyện từ vườn mình

Bà con thường chú trọng nhất chặng nào khi chăm bí hồ lô: nuôi rễ, dưỡng đọt hay nuôi trái? Chia sẻ kinh nghiệm cùng CFC để câu chuyện từ đồng ruộng có thêm những góc nhìn thực tế.

Nếu cần tham khảo quy trình sử dụng phân bón hoặc tìm điểm bán sản phẩm Cò Bay phù hợp, bà con có thể nhắn tin cho CFC để được tư vấn và hỗ trợ.